Nọc Ong – Dược Tính Và Độc Tính

Nọc ong có độc, nhưng vẫn được dùng để chữa bệnh từ nhiều đời nay ở cả phương Đông và phương Tây. Từ xưa người ta đã biết nọc ong có tác dụng giảm đau và làm lành vết thương nhanh chóng.

Nọc ong có thành phần hóa học như thế nào?

Nọc ong trong suốt, mùi hăng nồng tựa mùi mật ong, vị đắng, phản ứng axit, trọng lượng riêng bằng 1,1313. Trong nọc ong có axit focmic, axit clohydric, axit octophotphoric; 1% histamin, 0.4% magiephotphoric (tính theo trọng lượng nọc ong khô) và nhiều acetylcholin – những chất chữa bệnh rất hiệu quả. Ngoài ra, trong nọc ong còn có 18 axit amin: alanin, valin, glycocol, leucin, isoleucin, serin, threonin, arginin, axit asparaginovic, axit glutamic, tryptophan, prolin, lysin, tyrosin, cystin, methionin, phenylalalin, histidin.

Tính kháng khuẩn của nọc ong

Nọc ong có tính kháng sinh mạnh. Theo nhiều tác giả, nọc ong có tác dụng kháng sinh mạnh đối với 215 chủng thuộc 17 loại vi khuẩn khác nhau bao gồm cả vi khuẩn gram (+) và vi khuẩn gram (–), nhất là đối với liên cầu, tụ cầu, trực khuẩn lỵ… Trong thực tế, tiêm nọc ong chưa bao giờ bị áp xe, trái lại có nhiều trường hợp áp xe lại được chữa khỏi bằng nọc ong.

Dược tính của nọc ong

Từ lâu, nọc ong đã được dùng để chữa bệnh trong dân gian ở nhiều nơi trên thế giới. Con ong thợ có cơ quan phức tạp mang nọc ở dưới đốt bụng cuối cùng. Sau khi đốt người, ong mất hết nọc và chết, vì khi nó cố gắng kéo ngược lại chiếc nọc khỏi lớp da đàn hồi thì nọc bị đứt do có những móc ngược mảnh dẻ mắc kẹt trong da.

Tác dụng chữa bệnh của nọc ong cũng được y học biết đến và áp dụng từ rất lâu. Nhiều thầy thuốc nổi tiếng thời La Mã cho biết: Nọc ong có khả năng làm giảm đau và lành vết thương nhanh chóng. Đến thế kỷ 18,19, nhiều thầy thuốc Châu Âu đã công bố những kết quả đáng phấn khởi trong việc dùng nọc ong chữa các bệnh về tim và khớp. Gần đây, người ta đã dùng nọc ong chữa khỏi nhiều bệnh như viêm dây thần kinh, tăng huyết áp, viêm khớp, hen, suy nhược thần kinh, đau cột sống, viêm mống mắt… Các nhà khoa học đặc biệt nhấn mạnh: Nọc ong có giá trị như một nội tiết tố kiểu cortison với khả năng chống viêm, giảm tính thẩm thấu thành mạch, tăng sức đề kháng, nhưng lại tốt hơn cortison vì với liều lượng quy định hầu như không gây tai biến.

Qua thực tế, người ta đã theo dõi hàng chục vạn người nuôi ong và thường bị ong đốt, thấy hầu hết đều có sức khoẻ tốt, tuổi thọ cao, ít mắc các bệnh hen, thấp khớp, và một số bệnh nhiễm khuẩn khác.

noc-ong

Nọc ong

Độc tính của nọc ong

Dịch nọc ong trong suốt vừa có tác dụng chữa bệnh, vừa có tính độc, tuỳ theo liều lượng sử dụng và cảm thụ của cơ thể từng người.

Tính cảm thụ của cơ thể con người đối với nọc ong rất khác nhau. Mẫn cảm nhất đối với nọc ong là phụ nữ, trẻ em và người già. Những người khoẻ mạnh dễ dàng chịu đựng vài con, thậm chí hàng chục con ong đốt một lúc mà chỉ có phản ứng nhẹ tại chỗ dưới hình thức da mẩn đỏ, hơi sưng, rát nóng. Nhưng nếu bị hàng trăm con ong đốt một lần sẽ gây ra ngộ độc với các triệu chứng chủ yếu là rối loạn hệ tim mạch và hệ thần kinh (khó thở, tái nhợt, mạch nhanh, tê giật, liệt nhẹ), còn nếu bị 400 – 500 con ong đốt một lần thì người khoẻ mạnh cũng khó tránh khỏi tử vong do liệt trung khu hô hấp.

Cũng có người có tính cảm thụ cao với Nọc ong, chỉ bị một con ong đốt, hay tiêm thử mũi tiêm nọc ong đầu tiên đã có những phản ứng rõ rệt, cơ thể mệt mỏi, nhức đầu, phát ban, nôn mửa, tiêu chảy… Ngược lại, những người nuôi ong nhiều năm thường chịu được nhiều ong đốt mà không gây độc hại nào cho cơ thể. Như vậy không phải người bệnh nào cũng dùng được nọc ong và chịu đựng được liều lượng nọc ong như nhau. Do đó, việc chữa bệnh bằng nọc ong phải hết sức thận trọng và nhất thiết phải được tiến hành dưới sự theo dõi của bác sĩ.

(Theo GS.TS Đỗ Tất Lợi, tác giả cuốn “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”).

Nguồn: https://eatuhoney.com/noc-ong-duoc-tinh-va-doc-tinh/

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *